|
Đinh
lăng
Đinh lăng, Cây
gỏi cá - Polyscias fruticosa (L,) Harms (Tieghempanax fruticosus
R Vig.), thuộc họ Nhân sâm - Araliaceae.
Mô
tả:
Cây nhỏ dạng bụi, cao 1,5-2m. Thân nhẵn, ít phân nhánh, các nhánh
non có nhiều lỗ bì lồi. Lá kép mọc so le, có bẹ, phiến lá xẻ
3 lần lông chim, mép có răng cưa không đều, chóp nhọn, lá chét và
các đoạn đều có cuống. Cụm hoa chuỳ ở ngọn, gồm nhiều tán.
Hoa nhỏ, màu trắng xám. Quả hình trứng, dẹt, màu trắng bạc.
Cây ra hoa tháng
4-7.

Bộ
phận dùng:
Rễ, thân và lá - Radix, Caulis et Folium Polysciatis.
Nơi
sống và thu hái: Cây có nguồn gốc từ các đảo Thái bình
dương (Polynêdi) được trồng chủ yếu để làm cảnh ở các đình
chùa, các vườn gia đình. Từ năm 1961, do biết tác dụng bổ dưỡng
của rễ Đinh lăng, người ta trồng nhiều ở các bệnh viện,
trạm xá, vườn thuốc. Cây có khả năng tái sinh dinh dưỡng cao.
Người ta thường trồng chủ yếu bằng cách giâm cành; chọn
những cành già, chặt thành đoạn ngắn 15-20cm, cắm nghiêng xuống
đất. Trồng vào tháng 2-4 hoặc tháng 8-10. Đinh lăng ưa đất cao ráo,
hơi ẩm nhiều màu. Thu hoạch rễ của những cây đã trồng từ 3
năm trở lên (cây trồng càng lâu năm càng tốt), đem rửa sạch phơi
khô ở chỗ mát, thoáng gió để đảm bảo mùi thơm và phẩm
chất. Khi dùng, đem rễ tẩm nước gừng tươi 5% sao qua, rồi tẩm
5% mật ong hoặc mật mía. Lá thu hái quanh năm, thường dùng tươi.
Thành
phần hoá học: Trong rễ có glucosid, alcaloid, saponin
triterpen, tanin, 13 loại acid amin, vitamin B1. Trong thân và lá cũng có
nhưng ít hơn.
Tính
vị, tác dụng: Rễ Đinh lăng có vị ngọt, tính bình; lá
vị nhạt, hơi đắng, tính bình; có tác dụng bổ năm tạng, giải
độc, bổ huyết, tăng sữa, tiêu thực, tiêu sưng viêm. Đinh lăng
là thuốc tăng lực. Nó làm tăng sức chịu đựng của cơ thể đối
với các yếu tố bất lợi như kiệt sức, gia tốc, nóng. Đối
với người, Đinh lăng làm cho nhịp tim sớm trở lại bình thường
sau khi chạy dai sức và làm cho cơ thể chịu được nóng. Người
bệnh bị suy mòn uống Đinh lăng chóng phục hồi cơ thể, ăn ngon,
ngủ tốt, tăng cân. Nó cũng làm tử cung co bóp mạnh hơn. Đinh lăng
ít độc hơn cả nhân sâm và khác với Nhân sâm, nó không làm tăng
huyết áp.
Công
dụng, chỉ định và phối hợp: Đinh lăng dùng làm
thuốc bổ, trị suy nhược cơ thể, tiêu hoá kém, phụ nữ sau khi
đẻ ít sữa, sản hậu huyết xông nhức mỏi. Còn dùng làm thuốc
chữa ho, ho ra máu, thông tiểu tiện, chữa kiết lỵ. Thân và cành
dùng chữa phong thấp, đau lưng. Lá dùng chữa cảm sốt, mụn
nhọt sưng tấy, sưng vú. Ở Ấn Độ, người ta cho là cây có tính
làm se, dùng trong điều trị sốt.
Cách dùng:
Thường sử dụng ở dạng bột, ngày dùng 2g trở lên. Cũng có
thể thái miếng phơi khô, ngày dùng 1-6g dạng thuốc sắc. Từ năm
1976, Học viện quân y phối hợp với Xí nghiệp dược phẩm 1 Bộ
Y tế đã sản xuất viên Đinh lăng 0,15g với công dụng chữa suy mòn,
sút cân, kém ăn kém ngủ, lao động mệt mỏi, ngày uống 2-3 lần,
mỗi lần 2-3 viên. Lá Đinh lăng phơi khô đem lót gối hoặc trải
giường cho trẻ em nằm để đề phòng bệnh kinh giật. Phụ nữ
sau khi sinh uống nước sắc lá Đinh lăng khô, thấy cơ thể nhẹ
nhõm, khoẻ mạnh có nhiều sữa. Lá tươi 50-100g băm nhỏ cùng
với bong bóng lợn trộn với gạo nếp nấu cháo ăn cũng lợi
sữa. ỞCampuchia, người ta còn dùng lá phối hợp với các loại
thuốc khác làm bột hạ nhiệt và cũng dùng như thuốc giảm đau.
Lá dùng xông làm ra mồ hôi và chứng chóng mặt. Dùng tươi giã nát
đắp ngoài trị viêm thần kinh và thấp khớp và các vết thương.
Lá nhai nuốt nước với một chút phèn trị hóc xương cá. Vỏ cây
nghiền thành bột làm thuốc uống hạ nhiệt.
|
|